Một trường hợp điển hình vừa được tiếp nhận là bệnh nhân nam 60 tuổi, người đã phải sống chung với căn bệnh động kinh suốt nhiều năm qua. Từ một lao động chính trong gia đình, bệnh tật bủa vây khiến ông mất hoàn toàn khả năng lao động, chỉ có thể quanh quẩn ở nhà. Dù gia đình đã đưa ông đi chạy chữa khắp nơi nhưng bệnh tình không hề thuyên giảm.
Bác sĩ Nguyễn Thị Hồng Phấn – Khoa Nội hồi sức thần kinh, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức chia sẻ về ca bệnh: “Bệnh nhân này đã thử đến loại thuốc thứ 3 với liều lượng khá cao cho mỗi loại, nhưng vẫn xuất hiện rất nhiều cơn động kinh trong tuần. Thêm vào đó, bệnh nhân còn bị dị ứng với 2 loại thuốc kháng động kinh dùng để điều trị các cơn động kinh cục bộ.”
Trước bài toán hóc búa này, để định vị rõ ràng vị trí và số lượng ổ tổn thương gây động kinh, hội đồng chuyên môn đã quyết định áp dụng phương pháp ghi điện não xuyên nhu mô (SEEG). Các bác sĩ tiến hành đặt hệ thống điện cực dạng sâu xuyên qua sọ vào tận trong nhu mô não để định vị chính xác không gian 3 chiều. Hệ thống này sẽ ghi lại liên tục hoạt động điện não từ các vùng sâu và phức tạp trong nhiều ngày, từ đó truy tìm tận gốc mạng lưới khởi phát cơn động kinh mà các phương pháp chẩn đoán hình ảnh thông thường không thể phát hiện được.
Phân tích về tầm quan trọng của kỹ thuật này, PGS. TS. Bác sĩ Đồng Văn Hệ – Phó Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho biết: “Biện pháp điện não đồ xâm lấn này sẽ giúp chúng tôi xác định chính xác đâu là ổ động kinh, nhất là những trường hợp người bệnh đã dùng thuốc nhưng không hiệu quả, hay còn gọi là động kinh kháng thuốc. Việc này hết sức quan trọng để xem chúng ta có thể tiến đến bước tiếp theo là phẫu thuật thay vì dùng thuốc hay không. Điện não đồ ít xâm lấn này sẽ trả lời được một câu hỏi rất lớn: Bệnh nhân có cần mổ không? Và nếu mổ thì mổ ở đâu, cắt ở đâu?”
Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy, phương pháp ghi điện não xuyên nhu mô là cứu cánh cho những bệnh nhân động kinh mạn tính không còn đáp ứng với phác đồ điều trị nội khoa. Không chỉ mang lại độ chính xác tối ưu cho ca phẫu thuật triệt căn, kỹ thuật này còn chứng minh được độ an toàn cao với tỷ lệ biến chứng ghi nhận rất thấp, chỉ khoảng 1-2%, chủ yếu là các vết chảy máu nhỏ hoặc nhiễm trùng nhẹ quanh vị trí đặt điện cực và hoàn toàn có thể kiểm soát tốt.
Theo Alodoctor – ngày 25 tháng 5 năm 2026


